Tình trạng và phương hướng của Đạo hội

ĐẠO MẪU VIỆT NAM
ĐẠO HỘI HOÀNG THIÊN TIÊN THÁNH GIÁO
 CÁNH TAY CỦA ĐẤNG TỐI CAO


    Rất nhiều người trong Đạo hội chúng ta, có cùng niềm tin vào Đức Ngài nhưng lại không có một khái niệm hay ý thức mạnh mẽ về ĐẠO HỘI, chúng ta dường như chỉ chú ý tới hành động tâm linh tự phát của mình mà không có sự liên kết chặt chẽ, sự câu thông mật thiết đối với ĐẠO HỘI. Đó là một điều khiếm khuyết rất lớn mà ai trong chúng ta cũng cần phải bổ túc một cách nghiêm túc và tức khắc.


    Đa số các Tôn giáo Tín ngưỡng trên thế giới đều có Giáo hội, Đạo hội của họ. Ban đầu, khi chưa được THỂ CHẾ HOÁ các Giáo hội, Đạo hội là chỉ là nơi tập chung những người có cùng niềm tin và một ĐẤNG mà họ kính ngưỡng, dần dà cùng nhau thống nhất cầu nguyện, đốc thúc nhau trong việc giữ vững niềm tin. Cuối cùng được thể chế hoá, cắt đặt các ban bệ để chăm lo những công việc cụ thể một cách chuyên môn, từ đó thành các TỔ CHỨC hoàn chỉnh.
    Đức Đạo tổ đã dày công kiến lập ĐẠO HỘI cũng không ngoài những mục đích đó, ĐẠO HỘI sẽ là nơi chúng ta tập chung những người có cùng đức tin vào Ngài, rằng ĐẤNG TỐI CAO (Vua cha, Mẫu mẹ, Đạo tổ) là đấng cứu độ anh chị em, ĐẠO HỘI còn là nơi anh chị em hiệp nhất lời khấn, lời nguyện cầu hướng lên Đấng Thiêng Liêng, ĐẠO HỘI còn là nơi giữ gìn và thúc đẩy anh chị em đến với Đức Tin vào sự Công Chính.

  1. ĐẠO HỘI LÀ NƠI TẬP HỢP ANH CHỊ EM CÓ CÙNG ĐỨC TIN
    Chúng ta có niềm tin chân đích và mãnh liệt vào Ngài, chúng ta tự nhận là con của Ngài, nghĩa là chúng ta là anh chị em có cùng một CHA MẸ. Theo quy luật “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”(có cùng âm thanh thì đáp tiếng nhau, có cùng khí chất, khuynh hướng tinh thần thì tự tìm đến với nhau) thì việc chúng ta tìm đến với nhau tập hợp nhau lại đó là một việc hiển nhiên. Và ĐẠO HỘI do Đức Ngài thành lập chính là nơi tập hợp những anh chị em có cùng niềm tin vào lời dạy của Ngài về thế giới quan, vũ trụ quan trên cơ sở của Đạo Mẫu nghìn đời của dân tộc.
     2. ĐẠO HỘI LÀ NƠI HIỆP NHẤT LỜI CẦU NGUYỆN

    Xưa nay ai cũng biết rằng bản thân họ một mình có thể cầu nguyện, tự thân chúng ta cũng có thể biểu lộ đức tin, tự thân có thể câu thông được với VUA MẪU và CÁC NGÀI thông qua việc nguyện cầu sốt sắng. Những lời nguyện cầu, biểu lộ, hiệp thông đó là đáng quý, đáng trân trọng, và tất nhiên các ĐẤNG THIÊNG LIÊNG vô cùng tinh diệu sẽ hiểu thấu lời cầu nguyện của chúng ta. Vậy thì chúng ta cần gì tới sự cầu nguyện của ĐẠO HỘI, cần gì mất thời gian tập chung ở TOÀ PHỦ nóng nực, mất thời gian để CẦU NGUYỆN CỘNG ĐỒNG (cầu nguyện chung). Ai có ý nghĩ như vậy là chưa đủ, lời cầu nguyện nào cũng có cần biểu thị đủ hai phương diện, BIỂU THỊ và NỘI HÀM (nói nôm na là cách vái lậy và ý nghĩa của nó). BIỂU THỊ là hành động trong khi thực hành lễ bái, là cách chúng ta vái lạy, cách chúng ta tôn xưng, NỘI HÀM là bài học thông qua lễ bái, ý nghĩa và rút ra được bài học tu tập trong quá trình lễ bái.
    Về BIỂU THỊ những cách thức lễ bái, trong những người hướng tâm về TAM TÔN TỨ PHỦ không phải ai dũng thông hiểu minh bạch rõ ràng. Ngày nay trong trường hợp như vậy, không ít người thường tìm đến “sư phụ In - tơ - nét” “thầy Gu - gồ” (^ - ^)hoặc tìm đến những người bỗng một ngày đẹp trời tự dưng biến thành những “minh sư” để tham vấn. Những trường hợp như thế, có lẽ không thể gọi là nghiêm túc trong việc thực hành Tín ngưỡng. Bởi những sự tham vấn ấy, không thể có độ tin cậy cao. Vậy nên, sao không tìm đến những ĐẠO HỘI nơi có những con người (tuy chẳng phải những người sau một phút thành “minh sư”) để cùng họ tu tập, có khi các Thầy trong ĐẠO HỘI chưa dậy chúng ta câu nào, nhưng chúng ta lại thành thục trong việc chắp tay, quỳ gối trước THÁNH MINH, đơn giản là vì vào ĐẠO HỘI chúng ta học tập nhau. Mặt khác ĐẠO HỘI lại được Ngài chỉnh nắn, nên những lỗi trong quá trình cầu nguyện chung sẽ được chỉ ra một cách rõ ràng. Vậy chúng ta càng dễ dàng đảm bảo hơn về phương diện BIỂU THỊ trong cầu nguyện.
    Chung quy, BIỂU THỊ vẫn chỉ là hình thức, các Ngài vẫn chú trọng tới lời cầu nguyện của chúng ta hơn ở phương diện NỘI HÀM. Ngày nay có quá nhiều người khi thực hành lễ bái quên hoàn toàn những ý nghĩa nhân văn của việc lễ bái. Bài học nhân văn lớn nhất của việc lễ bái cầu nguyện là TÌNH YÊU THƯƠNG. Chúng ta kính yêu các Ngài, và các Ngài thương yêu chúng ta, sự yêu thương tương hỗ qua lại đó, chỉ có thể bền chặt nếu chúng ta yêu thương thêm người bên cạnh chúng ta, bởi sao? Bởi ta kính yêu các Ngài là một chiều, nhưng Ngài là yêu thương chúng ta là đa hướng (tức là Ngài không loại trừ bất kì con người nào khỏi lòng yêu thương của mình). Nếu muốn tình yêu thương của các Ngài đến với chúng ta một cách nhất quán hơn, tổng thể hơn thì không gì hết con người với con người cần có sự gắn kết nhau, mà chỉ có TÌNH YÊU THƯƠNG mới có thể làm được điều đó. Nếu lời cầu nguyện của chúng ta là đơn độc thì lấy gì đảm bảo cho chúng ta rằng lời cầu nguyện ấy thoả mãn tình yêu thương? Nhưng nếu chúng ta tập hợp lại cùng một thời điểm, cùng một không gian, cùng lời kinh tiếng kệ, cùng đồng lòng nhất tâm trong cùng một câu khấn nguyện thì biểu thị tinh thần hoà hợp, tinh thần huynh đệ rõ ràng hơn bao giờ hết. Và mái nhà ĐẠO HỘI là điều mà anh chị em cần, tập chung trong ĐẠO HỘI để cầu nguyện sẽ là phương pháp cầu nguyện rốt ráo và công đức nhất bởi ở đó TÌNH YÊU THƯƠNG, và ĐOÀN KẾT của con người chúng ta sẽ làm đẹp lòng VUA CHA MẪU MẸ. Một ông đồng bà cốt có uy lực đến mấy, có cầu nguyện cho chúng ta cũng chỉ là một sự cầu nguyện đơn lẻ, cá nhân mà không thể biểu đạt rõ ràng của sự hiệp thông tổng thể, những sự cầu nguyện ấy không thể so sánh với một vị CHỨC SẮC (CÁC THẦY) trong ĐẠO HỘI khi họ mang trong mình trọng trách đại diện cho toàn thể Tín đồ mà cầu nguyện.
    Nhân tiện, việc so sánh tập chung cầu nguyện cũng giống việc khiếu kiện tập thể, sự so sánh này là khập khiễng. Nói rộng ra ngày nay nhiều người đem nhãn quan của cuộc sống để áp đặt vào các ý niệm Tôn giáo Tín ngưỡng, cúng dường các Ngài như việc đút lót quan tham, cầu xin các Ngài như cầu xin người có chức có quyền, lợi dụng các Ngài chỉ để đạt được những nhu cầu tầm thường, có lợi cho bản thân nhưng lại nguy hại cho người khác. Chúng ta tập chung dưới ĐẠO HỘI để cầu nguyện là thể hiện sự kiến lập, duy trì YÊU THƯƠNG, sự cầu nguyện ấy trước ĐẤNG THIÊN LIÊNG là có giá trị vô cùng rốt ráo. Còn việc khiếu kiện tập thể đơn giản là tạo áp lực trước nhà cầm quyền để mong họ giải quyết những điều tồn tại của người đi khiếu kiện mà thôi, không thể so sánh với ý nghĩa của việc cầu nguyện được.
    “Tâm động quỷ thần tri”, tâm dù lớn hay nhở giao động Quỷ thần đều thông biết nhưng những tâm lớn lao đặc biệt là TÂM YÊU THƯƠNG, TÂM HOÀ HỢP chắc chắn CÁC NGÀI sẽ cảm thông và hài lòng hơn cả. vậy cho nên việc lễ bái của những tín đồ chân chính không thể tách rời khỏi ĐẠO HỘI, cùng anh chị em trong ĐẠO HỘI cầu nguyện đó là một hành động sáng suốt hơn bao giờ hết, cùng CÁC THẦY đại diện cho ĐẠO HỘI cử hành nghi thức của gia đình là sự lựa chọn hoàn hảo, kết phát đầy đủ sự hiệp thông với ĐẤT TRỜI và CON NGƯỜI.

     3. ĐẠO HỘI NƠI GIỮ GÌN THÚC ĐẨY ĐỨC TIN.

    Cuộc sống thế gian như những cơn sóng dữ, mà cuộc đời con người thực tế lại chỉ như phù du trầm phù trôi nổi. Những người ảo tưởng nhất luôn cho rằng cuộc đời của họ thực sự lớn lao, mạnh mẽ, nhưng rồi có những khoảnh khắc họ cũng sẽ bị quật ngã. Những lúc như vậy, ai sẽ là người tiếp sức cho chúng ta? Những sóng gió cuộc đời đôi khi làm thay đổi cách nghĩ của chúng ta về TAM TÔN và TỨ PHỦ, niềm tin ấy đôi khi sẽ lung lay, sẽ lụi tàn. Khi tất cả quay mặt với chúng ta, ai sẽ là người nhìn mặt chúng ta? Chỉ có những ĐẠO HỘI chân chính mới thể trả lời, mới có thể giải quyết được điều đó. Những lúc đó, rất cần những con người có tâm của ĐẠO HỘI tới lắng nghe, động viên, đôi khi là đồng hành cùng vượt qua đau khổ. Giá trị của cuộc sống còn khi niềm tin và đức tin còn, nếu nó mất cuộc sống ấy đã là vô nghĩa. Vậy nhiệm vụ DUY TRÌ và THÚC ĐẨY đức tin của ĐẠO HỘI là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và nó cũng là đặc tính hiển nhiên của ĐẠO HỘI. Nếu ĐẠO HỘI nào không làm được điều này thì chỉ có bước đường đi tới tiêu vong.

NHỮNG TỒN TẠI TRONG ĐẠO HỘI CHÚNG TA

    Là một ĐẠO HỘI bán chuyên, chúng ta mang hình hài của những ĐỨA TRẺ (tuy cũng đã hơn chục năm) cùng với đặc thù là ĐẠO HỘI của một loại hình Tín ngưỡng tuy lâu đời nhưng chúng ta vẫn chưa thoát thai ra khỏi hai chữ BỐC ĐỒNG - một tính từ thú vị ngộ nghĩnh nhưng đầy nguy hiểm và hiển nhiên mang đậm tính đổ vỡ. Ngay từ đầu khi chúng ta có đầy đủ điều kiện tốt để phát triển nhưng đã thiếu đi tầm nhìn vĩ mô và cách quản lí khoa học, dẫn đến tình tràng trì trệ trong Thánh sự cũng như trong việc góp phần thể chế hoá ĐẠO MẪU. Mở rộng đối tương quan sát chúng ta thiếu nhiều thứ, cơ sở vật chất, kinh tế, điều kiện luật pháp địa phương sở tại, nhưng tối trọng yếu hơn cả là con người, nhưng chúng ta cũng thiếu cả điều này.
Chúng ta là một ĐẠO HỘI của ĐẠO MẪU - Tín ngưỡng lâu đời của Dân tộc, với đặc thù các tín đồ đại đa số là nông dân, tiểu thương, rất ít những thành phần có trình độ học vấn cao, chính vì thế để giáo dục, truyền bá cho họ những nghĩa lí, giá trị nhân văn, giáo lí, giáo luật tới Tín đồ là một việc khá khó khăn. Nhân thức là một yếu điểm của không nhỏ Tín đồ Đạo Mẫu, khi nhận thức không rõ ràng minh bạch, bản thân Tín đồ đó cũng không thể chuyển hoá bản thân, chứ đừng nói chuyển hoá gia đình và người xung quanh. Nhận thức yếu kém kéo theo một loạt sự ngộ nhận về ân phúc của các THÁNH MINH. Nhiều người tự cho rằng mình là người được các Ngài lựa chọn nên luôn tự cao cho rằng, bản thân mình có địa vị cao hơn người khác, rằng trước CÁC NGÀI họ sẽ được ưu ái hơn, thế nên họ không chấp nhận dưới sự lãnh đạo của ĐẠO HỘI, cho rằng các vị cốt cán trong ĐẠO HỘI không xứng đáng khiến họ tuân phụng trong THÁNH SỰ. Một số thì cho rằng bản thân có CĂN SOI, có MỆNH LỚN nên chỉ có ĐỨC NGÀI mới có thể sai khiến, một số thì cho rằng tôi ở trong ĐẠO lâu năm hơn thì tôi mặc nhiên tôi có uy quyền hơn. Những ngộ nhận này xuất phát thì cái tôi cá nhân hèn kém, ngu muội đã bị vô minh dẫn dắt. ĐẠO HỘI là đại diện của Đức Ngài trên thế gian, chúng ta tôn trọng uy quyền của ĐẠO HỘI thông qua các CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC cũng chính là sự tôn trọng ĐẠO TỔ. Tôn trọng các CHỨC SẮC CHỨC VIỆC không phải là việc sùng bái hay phục tùng họ mà đó là quy tắc nhất thiết phải có của một người ở trong một tổ chức, chính là TÔN TRỌNG TỔ CHỨC. Một số CHỨC SẮC CHỨC VIỆC có thể không có năng lực tâm linh, không tài giỏi ba đầu sáu tay, cứu nhân độ thế, vung bùa phù phép, nhưng chắc chắn sự nhiệt thành cống hiến là có thừa, bởi đơn giản họ làm việc không lương, không công, không thưởng, mà chỉ có nhận được trách phạt, kiểm điểm, riêng điểm đó họ hơn hết tất cả những người kia. Người thay vì tới ĐẠO HỘI phụng vụ, họ thừa thời gian hát hò, ca múa, rượu chè, rồi làm nhảm suốt ngày ba hoa về những thành tích, tài năng , hiểu biết của mình nhưng không xây dựng, không cống hiến, không đảm nhận công việc thì sau tất cả, ĐẠO HỘI nhận được chỉ là con số không. Còn người nỗ lực cống hiến thời gian công sức cho ĐẠO HỘI dù kém cỏi nhưng chí ít cũng làm cho bộ máy này chuyển động ít nhiều, vẫn đáng được trân trọng hơn. Hiện tượng này xuất hiện khá nhiều và thường xuyên liên tục, không chỉ ở trong Tín đồ mà tồn tại ngay cả các Thầy đối với nhau, bởi đơn giản xuất phát từ thói quen ích kỉ, họ chưa tu được đức tính TIN NHẬN, một trong những đức tính quan trọng trong đời sống tâm linh.  Tin nhận là sự phụng sự và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình, những người Tin nhận là những người luôn nghĩ “mỗi chúng ta thay vì chống đối, phản kháng, tự ái thì hãy cố gắng hoàn thành Thiên chức nhiệm vụ của mình thì ĐẠO HỘI sẽ tốt lên, và tất nhiên sẽ làm đẹp lòng TIÊN CHÚA”. Chỉ có tin nhận chúng ta mới có thể hợp lực tạo nên một ĐẠO HỘI HOÀ HỢP, có hoà hợp chúng ta mới có thể vững vàng tu tập tinh tấn, mới đạt thành qủa trên con đường mà chúng ta đã lựa chọn được.
    Nói tới riêng tới các CHỨC SẮC CHỨC VIỆC mà nôm na gọi là CÁC THẦY, tôi vẫn đặt ĐẠO ĐỨC lên trên hàng đầu. ĐẠO ĐỨC tôi đề cập là một khái niệm hẹp, rất rõ ràng, đó chính là cách đối nhân xử thế, khéo nhiếp phục (nói nôm na là khéo ngoại giao, khéo ăn nói), người xưa từng nói "khéo ăn nói thì sẽ được cả thiên hạ", còn ở chúng ta ngược lại, khi làm việc vẫn để cảm xúc của bản thân chi phối, nóng giận bộc phát tạo bất hoà, gây xao động nội bộ, điều đó thực sự chính là cản trở chính của chúng ta ngay từ đầu thành lập tới giờ. Dẫn dụ người khác đi theo con đường công chính cũng từ khéo ăn nói mà ra, bình được loạn động trong tín đồ cũng từ khéo thuyết phục mà bình, bộ máy hoạt động nhuần nhuyễn uyển chuyển cũng từ khéo câu thông mà thành… Chúng ta không phải là một Tổ chức chính trị hay kinh tế nhưng là một tổ chức tôn giáo việc cần tu luyện ĐẠO ĐỨC là vô cùng cần thiết. Song song cùng với đó việc trau dồi kiến thức của các thầy là một việc cũng quan trọng không kém. Ngoài những kiến thức đời sống thì cũng ta cần phải nghiên cứu chuyên sâu các bài giảng của NGÀI, rồi sau đó liên tưởng chuyển hoá, thực hành cũng như truyền bá cho người khác. Rút kinh nghiệm từ việc học của bản thân, tôi thấy rằng chúng ta không nên nghĩ là mình đang học, bởi nếu áp lực thế, chúng ta luôn coi những kiến thức kia luôn là những thứ ngoài thân. Chỉ khi ta so sánh đối chiếu với những cái đời thường, ngay chính sự vật việc hiện tượng giản đơn trong cuộc sống, chúng ta mới đưa kiến thức ấy vào não bộ của mình một cách nhanh chóng và chắc chắn được.
    Và đặc biệt đối với ĐẠO HỘI thì việc hoạch định các phương hướng phát triển, vạch ra đường đi nước bước cụ thể, ấy mới có thể hoàn thành nhiệm vụ cao đẹp mà tôn chỉ chúng ta vạch ra. Đặc biệt các CHỨC SẮC CHỨC VIỆC phải là những người tiên phong trong tất cả những điều đó.

NHỮNG VIỆC LÀM CỤ THỂ CẦN PHẢI LÀM TRONG THỜI GIAN TỚI


    1. Xác định rõ phương thức Truyền bá Thánh đạo, Hoằng dương Tín ngưỡng: Từ xưa tới nay, Tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn luôn bó hẹp thụ động, sự thụ động ấy thể hiện ở ngay cả cách chúng ta đón nhận Tín đồ. Chúng ta thường ngồi một chỗ tại Đền Phủ và chờ Tín đồ tới với niềm đau và nỗi khổ. Điều ấy là quý giá, nhưng có khi nào chúng ta tự nghĩ, đó là quá muộn không? Tại sao chúng ta không tìm đến với họ trước khi những điều đau khổ ấy xảy ra, để họ được đạo, giúp họ cải đổi khổ đau, hoặc chí ít họ có chỗ dựa tinh thần để những niềm đau ấy được nguôi ngoai? Ngày nay, con người cùng với công nghệ thông tin thay đổi chóng mặt, ngày hôm sau có khi đã cách xa ngày hôm trước, cuộc sống con người vội vàng hơn, nhưng cách tiếp cận với Tín đồ của Tín ngưỡng thờ Mẫu và ĐẠO HỘI chúng ta vẫn dậm chân tại chỗ, không có gì cải biến. Với những vấn đề Tín ngưỡng, chúng ta không thể ở tâm thế kẻ cả, mặc kệ khi họ cần thì họ tự khắc tới, mà chúng ta phải lăn xả vào xã hội, để cứu độ những số phận con người thay vì đòi hỏi họ phải tới trình diện. Chúng ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu Tín đồ đã cải đạo sang các Tôn giáo Tín ngưỡng khác, ví dụ như Tin lành, Giê hô va, Hội thánh Chúa trời… tất cả những giáo phái ấy đã đánh trúng tâm lí của con người thời hiện đại, đó là mong muốn được cứu độ nhưng không biết đi tìm đâu, họ đã quá chán nản với những ông sư phá giới ăn thịt chó, với những ông đồng bà cốt chỉ chăm chăm cúng bái lấy tiền, với những ông cha xứ giáo điều tới nhàm chán…Vậy thì thay vì để họ đi tìm có khi là tìm lầm, đi vào những con đường tu luyện lầm lạc, tà đạo, tại sao chúng ta không tìm tới họ? Chúng ta phải thấy được điều này và ngay lập tức thay đổi cách truyền đạo. Chúng ta phải nhanh nhạy với những nỗi khổ niềm đau của Tín đồ, phải tới tận nơi, thường xuyên lắng nghe những tâm tư của con dân, đưa ra những khích lệ động viên một cách khéo léo và hợp lí. Đặc biệt lưu ý là ĐỪNG CHỈ NGỒI ĐÓ mà hãy ĐỨNG DẬY và  đến những nơi nào có nỗi khổ niềm đau, đó chẳng phải một nhiệm vụ vinh quang và quan trọng hơn hết là làm VUA MẪU hài lòng.
    Việc này đòi hỏi chúng ta phải có một cơ chế TRUYỀN ĐẠO một cách cần mẫn kiên trì và rộng khắp. Như trên đã nói, việc cầu nguyện tới VUA CHA MẪU MẸ là việc thể hiện TÌNH YÊU THƯƠNG, không chỉ đối với TAM TÔN TỨ PHỦ mà còn đối với thế gian nhân loại những người sống xung quanh chúng ta. Việc giúp người khác khai ngộ không phải là trách nhiệm của riêng một ai, thế nên công cuộc TRUYỀN ĐẠO là của toàn bộ ĐẠO HỘI và TÍN ĐỒ. Lấy TRUYỀN ĐẠO làm kim chỉ nan xuyên suốt trong công cuộc tu tập, SẼ KHÔNG CHỈ GIỚI HẠN Ở CHỨC SẮC CHỨC VIỆC MÀ TOÀN BỘ TÍN ĐỒ. Lẽ đó, ngoài nghĩa vụ Tín ngưỡng là CẦU NGUYỆN LỄ BÁI, xác lập thêm nghĩa vụ TRUYỀN ĐẠO. Tất nhiên, trước khi tiến hành đông thái này, yêu cầu tất cả chúng ta phải chuẩn bị một cách đầy đủ về lòng nhiệt thành và tín phụng.

    2.Mở rộng các hoạt động Từ thiện: Song song cùng với công việc TRUYỀN ĐẠO, đó chính là chúng ta phải mở rộng các công tác TỪ THIỆN, đây là một trong những động thái hiện thực hoá TÌNH YÊU THƯƠNG nhưng cũng là một phương tiện truyền đạo đắc lực. Những công tác đó từ lâu chúng ta đã có những hành động nhưng giờ đây đòi hỏi phải thường xuyên liên tục, và rõ ràng hơn nữa.
     Thành lập một trại TỪ THIỆN, dự kiến dần dần chuyển đổi THANH MINH VIỆN từ một ĐẠO VIỆN thành một trại từ thiện, nuôi dưỡng những người già neo đơn và trẻ em cơ nhỡ, tương lai sẽ xây thêm mấy nhóm nhà phụ trợ để thêm nơi ở.
     Thành lập NHÓM TỪ THIỆN HOÀNG THIÊN, kêu gọi TÍN ĐỒ có tấm lòng từ thiện tham gia, có năng lực nấu nướng để có thể 1 tuần 1 lần đi từ thiện cho mọi người. Trước tiên chú ý tới BỆNH VIỆN.
     Liên hệ kêu gọi các mạnh thường quân tham gia ủng hộ tiền bạc, tịnh tài, đồ dùng để có thêm sức mạnh ý chí & kinh tế hoàn thành sứ mệnh từ thiện.
    Những việc này cần có BAN TỪ THIỆN, nhiệm vụ điều phối, công khai thu chi, đưa các hình ảnh hoạt động từ thiện lên thông tin đại chúng, mạng xã hội, QUỸ TỪ THIỆN này sẽ là một quỹ riêng tách biệt so với QUỸ ĐẠO HỘI.

KẾT LUẬN

    Để hoàn thành sứ mệnh là một ĐẠO HỘI công chính và mạnh mẽ, đòi hỏi chúng ta phải làm tổng thể và nhất quán, giữ vững đường lối là một ĐẠO HỘI tôn giáo đúng nghĩa, thể hiện nguyên tắc của ĐẠO ĐỨC và TÌNH THƯƠNG YÊU, loại bỏ ngay những tạp niệm thế gian, loại bỏ ngay sự sĩ diện và cảm xúc tầm thường. Có như vậy, công trình tu hành trên vâng Thánh ý dưới độ chúng dân mới dần dần hoàn thành và đạt kết qủa viên mãn. Dẫu biết là sẽ khó khăn nhưng với ý chí quyết tâm thì có lẽ không có gì có thể thay đổi được chúng ta. Hi vọng anh chị em sẽ cùng đồng lòng gắng hết sức mình, dùng tâm lực, trí lực, tài lực đóng góp cho sự thành công của ĐẠO HỘI, cũng chính là sự thành công của chính anh chị em! Cầu nguyện Tam tôn Vô thượng và Tứ phủ Tiên thánh gia hộ cho chúng ta!



  Các Tin khác