Đức Quốc Mẫu Liễu Hạnh




       Đức Quốc Mẫu Liễu Hạnh được Giáo hội Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo tôn xưng là đấng Tối cao bậc Vô thượng Toàn năng Toàn thiện Toàn mĩ Toàn chân Hoàng Thiên Quốc Mẫu Ngọc cung nương dung Liễu Hạnh công chúa, là đấng Tối tôn chủ quản và tạo hóa ra vũ trụ cũng như Tiên Thánh Thần, Nhân, Ma, Quỷ, Súc sinh. Trên trời làm vị Tối thượng Thánh, hạ sinh thì lại là chuẩn mực nhân gian, với quyền năng cũng như đạo đức của Ngài cùng các giáng sinh, hiển hóa đã nâng Người lên vị trí trung tâm trong đạo Mẫu Việt nam nói chung và Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo nói riêng.

 

Lần hiển hóa thứ nhất, vì động lòng thương xót gia đình ông Phạm Thái Công hiệu Huyền Viên húy là Đức Chính và vợ Phạm Thái Bà hiệu Thuần Nhất ăn ở hiền lành phúc hậu, ngày đêm chỉ chăm chỉ làm việc phúc thiện, việc lành đức nào cũng làm không hề từ nan nhưng hiềm một nỗi tuổi già sức yếu mà vẫn chưa hề có con. Ngày đêm ông bà lễ đảo cầu khấn, cao xanh thương tình, Chúa tiên thương xót, quần thần đồng ý cho Quốc Mẫu giáng sinh, cũng chính ngày hôm đó ngày 15 tháng 6 năm Thuận Thiên  thứ 6 nhà Lê (1433) Phạm Thái bà thụ thai.

 

Ngày Quốc Mẫu giáng sinh, triều thần văn võ bá quan cờ nhạc trống dong đưa tiễn Mẫu giáng hạ trần gian. Đêm đó Phạm Thái công nằm chiêm bao thấy có Tiên nữ đẹp tuyệt trần đến nhà mình, cúi thân cung kính rồi giật mình tỉnh giấc, liền lúc Thái bà sinh hạ một người con gái. Ông mới đặt tên là Tiên Nga, lúc đó là giờ Dần ngày 6 tháng 2 năm Giáp Dần Thái Bình nguyên niên (triều Lê Thái Tông 1434). Là Thiên Tiên hạ phàm, người sinh ra đã là người sắc nước hương trời, lầu thông kinh sử, học thông biết rộng, thấu biết lễ nghĩa đặc biệt là giữ trọn chữ hiếu với cha mẹ, dân chúng trong vùng ai ai cũng ngợi khen người con gái xinh đẹp mà hiếu thuận. Khi cha mẹ mất, Người chỉ ở một mình không lập gia đình, đức độ lại càng vang xa, cứu dân độ thế cả một vùng, cùng giúp đỡ dân chúng quanh vùng làm ăn, truyền bá thiện đức, khuyên nhủ chúng dân bỏ ác.

 

Ngày tháng thoi đưa, chẳng bấy lâu đã tới kì mãn hạn chầu tiên, tự nhiên nhớ lại gốc xưa vốn là Thiên tiên trên trời, biết sắp đến ngày hồi loan, ngày đêm trông ngóng về trời. Đêm mùng 1 tháng 3 năm Quý Tỵ 1473, bỗng một trận gió làm đổ lộc rung cây, có đám mây năm màu mùi thơm ngào ngạt, trên mây có loan xa chờ sẵn, lại thấy các Tiên nữ trên trời đều xuống phủ phục dưới chân Người. Mẫu quay lại nhìn ngắm gia viên, quan sát xóm làng rồi lên loan xa hồi cung lúc đó là giờ Dần ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ tư(1473).

 

Về trời lại thấy nhớ cảnh năm xưa, nhớ đến ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ xưa mà thổn thức trong lòng, ngày đêm mong ngày giáng hạ để được chăm sóc cha mẹ, lúc bấy giờ lại đầu thai tại xã An Thái, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (Nam Định bây giờ)

 

Tại thôn Vân Cát có gia đình ông Lê Thái công cũng hiệu Đức Chính còn vợ là Trần thị hiệu Phúc Thuấn ăn ở hiền lành, chuyên lo việc thiện đức, họ chính là đầu thai chuyển thế của cha mẹ Họ Phạm ở Vỉ Nhuế năm xưa.

 

Năm 40 tuổi hai vợ chồng mới sinh được một người con trai đầu lòng tên là Lê Lục, Thiên Hựu nguyên niên đời vua Lê Anh Tông (1557) bà Trần thị có thai lần hai, lần này đến kì sinh mà không sinh được, ăn uống lạ kì, không bao giờ ăn thịt, chỉ ăn hoa quả, trong nhà thấy vậy tưởng ma quỷ nhiễu hại bèn mời thầy phù thủy về trừ tà trị bệnh nhưng không hề hiệu quả, trình trạng càng trầm trọng hơn.

 

Một ngày thượng tuần tháng tám, đêm thanh trăng tỏ, có một đạo nhân ăn mặc lạ kì xin vào chữa bệnh, Lê Thái công nghe thấy liền mời vào, thiết lập hương án, đạo nhân xõa tóc hành pháp, rồi rút búa trong tay ném xuống đất, Thái công tức thì mê man và thiếp đi và trong khi đó ông đã mơ thấy được lên Thiên đường và thấy Tiên chúa mặc xiêm y thanh thoát, hình dung sáng chói, chuẩn bị hạ giáng xuống trần gian. Khi tỉnh mộng thì đã lúc canh tàn, bà đã sinh ra một nữ tử, hương thơm ngào ngạt, ai ai cũng lấy làm vui mừng, lúc đó đạo nhân biến mất lúc nào không hay.

 

Khi đó là giờ Dần ngày 15 tháng 8 năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tông (1557). Ông Thái công mới đặt Tiên chúa tên Thắng hiệu Giáng Tiên.

 

Tiên chúa lớn lên trở thành một người con gái sắc đẹp tuyệt trần, nết na ưa nhìn, hiền lành thục nữ, trần gian hiếm có người nào như vậy. Không những vậy kinh văn sách sử, học vấn của Người cũng uyên thâm khó bậc nam nhi nào sách so được. Cầm, kì, thi, họa mọi thứ Người đều am tường thấu tỏ tường tận.

 

Một hôm nhân nghe tiếng đàn của Tiên chúa gẩy, chợt Thái công nhớ tiếng đàn này giống tiếng đàn năm xưa khi ông nằm mộng lên Thiên đình, nghĩ con gái mình chắc chắn là người nhà trời, sợ rằng sẽ khó nuôi, nên đem cho ông Trần Công làm nghĩa nữ.

 

Có hai vợ chồng ông Trần lão quan gần làng bên, không con cháu, một hôm dạo chơi gió mát trăng thanh, tự nhiên thấy ai bỏ một đứa trẻ ở bên gốc đào, ông Trần lão quan mới đem về nuôi đặt tên là Trần Đào Lang.

 

Đến năm Quý Dậu (1573) Gia Thái nguyên niên triều Lê Thế Tông, chàng Đào Lang 21 tuổi, đức Tiên chúa 17 tuổi, nhân lúc Trần Đào Lang sang nhà Trần lệnh công, thấy Tiên chúa đẹp tuyệt trần lại tài hoa vẹn đủ mới đem lòng yêu mến, mới đến cầu hôn.

 

Thoạt đầu, Tiên chúa không ý định thành hôn, chỉ muốn ở với mẹ cha phụng dưỡng, nhưng sau đó cha mẹ vun vào, và cũng cảm mến chàng Đào hiếu học, Tiên chúa đồng ý và hôn lễ được tác thành khi Tiên chúa 18 tuổi.

 

Về gia đình chồng, luôn giữ phép với cha mẹ chồng, giữ đạo vợ chồng, cuộc sống hạnh phúc và hai người đã khai sinh ra một nam tử đặt tên Trần Nhân, cảnh gia đình thật vui vầy sướng ca.

 

Nhưng mãn hạn về trời, Tiên chúa không bệnh mà mất, hưởng dương được 21 tuổi, Chúa hồi loan vào giờ Dần ngày 03 tháng 03 năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái ngũ niên triều vua Lê Thế Tông (1577).

 

Gia đình xóm làng ai nấy tiếc thương, tổ chức an táng cho Tiên chúa tại cây đa bóng.

 

Tiên chúa về chốn Thiên cung, trần duyên chưa hết, trong lòng còn bồi hồi không nguôi, được ba ngày trên Thiên giới, tức là 3 năm dưới hạ, vừa vào dịp đại tường của Tiên chúa (tức năm Kỷ Mão Quang Hưng nhị niên Vua Lê Thế Tôn 1579), một hôm bà Trần Thị (vợ ông Lê Thái công) vào phòng của Tiên chúa khi xưa  thấy lòng đau dạ xót, nước mắt chứa chan rồi ngất đi.

 

Bỗng nhiên một cơn gió mát thổi đến, bà bừng tỉnh rồi thấy Tiên chúa hiện thân ôm lấy bà mà khóc, lúc đó Lê Thái công và hai ông bà Trần Công cùng người anh Lê Lục thấy vậy vội vã chạy vào nửa mừng nửa lo, chàng Đào Lang cũng vừa bồng con trên tay vừa than khóc thê lương.

 

Tiên chúa mới gạt nước mắt tâu rằng: “Con là Thiên tiên, chẳng phải người phàm, không phải không muốn ở cùng phụ mẫu song thân và phu quân, huynh đài, con cái, nhưng vì Thiên mệnh không khác, mong mọi người chớ sầu bi ai oán, công đức cao vời gia đình đều có Tiên tịch, mong ngày sớm hội ngộ mọi người chốn Thiên cung”

 

Dặn dò xong xuôi, Tiên chúa lạy tạ gia đình, lưu luyến mãi không dứt, xong rồi Tiên chúa biến mất.

 

Đào Lang càng thương nhớ Tiên chúa, việc học dở dang, con cái nheo nhóc, Tiên chúa động lòng ray rứt không nguôi, ngày đêm đều ngóng trông về nhà xưa quê cũ, thấy Trần Đào như vậy Tiên chúa lại một lần nữa hiện thân.

 

Đang ru con ngủ, Đào Lang thấy có tiếng gọi, chàng đứng dậy nhìn, nửa mờ nửa tỏ thấy Tiên chúa đã hiện ngay trước mặt mình, chàng níu áo Tiên chúa mà khóc, Tiên chúa an ủi: “Ta là Thiên tiên, chàng cũng mang Thiên tộc, nhân duyên tiền định, ắt sẽ gặp lại, không bao lâu nữa, Ta với chàng sẽ lại tái hợp” Tiên chúa lại nhờ Đào lang thường xuyên viếng thăm cha mẹ đôi bên của Tiên chúa, nuôi dạy con cái thật tốt, giữ trọn phần làm con. Nói xong Tiên chúa biến mất.

 

Sau lần đó, Tiên chúa dong chơi khắp hết đây đó, thưởng thiện phạt ác, làm phúc hành tai, những nơi Người đi qua đều phải kinh sợ hãi hùng. Chúa rất thích dọn quán bán hàng, hiện người thử thách chúng sinh, khi thì ở Đèo Ngang Ba Dội (Thanh Hóa Ninh Bình), khi thì Phố Cát Đại Đồng, người trần hư đốn thì bị giáng tai họa, kẻ chính tâm được ban ân thưởng phúc, Tiên chúa đẹp quá cho nên phàm phu tục tử thường ao ước đắm say, rồi duyên sự chẳng thành nên than rằng:

 

“Ăn trầu nhớ miếng cau khô

 

Lên đèo Ba Dội nhớ cô bán hàng.

 

Ăn trần nhớ miếng cau khô

 

Qua đồi Phố Cát nhớ người năm xưa.”

 

“Ai lên Phố Cát Đại Đồng

 

Hỏi thăm cô Liễu có chồng hay chưa?

 

Có chồng hồi mãi năm xưa

 

Năm nay chồng vắng như chưa có chồng”

 

Ai đi rêu rao rồi xướng họa câu hát đó đều bị tai họa, người biết phải dốc lòng kính phục, tạ ơn chân thành, nguyện cầu lại được sở nguyện tòng tâm.

 

Vân du xứ Thanh Hoa, Ninh Bình, Người lại lên Lạng Sơn, tĩnh tâm tự tại, dọn quán bán hàng. Một hôm, khi vắng khách, Người cầm đàn gẩy và hát. Tiếng hát vừa dứt, tự nhiên có tiếng người đọc:

 

“Tam mộc sâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử”

 

Người nhìn ra, thấy một viên quan, cân đai áo mão, cờ quạt nghiêm trang, Chúa biết là người đi sứ. Thấy thế, nhanh nhẹn ứng đối lại:

 

“Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.”

 

Viên quan xuống ngựa, cúi đầu vái chào làm quen, lại ra lời đối:

 

“Sơn nhân bằng nhất ỷ, mạc phi Tiên nữ giáng phàm” (Người trên núi ngồi trên ghế kia, có phải chăng là Tiên nữ?)

 

Người liền ứng khẩu đối lại:

 

“Văn tử đới trường cân, tất thị học sinh thị trướng” (Nhà văn sĩ áo mạng cân đai, tất là học sinh bên trướng)

 

Câu đối của Người ý chỉ coi người đó như học sinh của mình vậy. Nghe xong nghoảnh lại thì không thấy đâu, chỉ thấy ghế trống trơn, tìm xung quanh thì ra đây là một ngôi đền bị tan hoang, nhìn trên vách thì thấy bốn chữ: “Mão Khẩu Công chúa” dưới tán cây xanh rì, người đó tán ra Mão Khẩu ở dưới mộc (cây) là Liễu Hạnh, đích thị là Liễu Hạnh Công chúa hiện thân. Cách đó không xa lại thấy chữ “Băng Mã Dĩ Tẩu”, băng ghép với mã là Phùng, chính là họ của người này, dĩ ghép với tẩu là khởi, ý tứ là muốn người họ Phùng này khởi dựng lại ngôi đền đã hoang tàn này.

 

Người đó chính là trạng Bùng Phùng Khắc Hoan, nhân đi sứ bên Trung Quốc đã được duyên phúc gặp Tiên chúa, lại được Người dặn dò hưng công lại ngôi đền thờ đó.

 

Sứ Tàu về, công việc mệt mỏi, trạng Bùng xin nghỉ, cùng hai người bạn văn nhân họ Ngô và họ Lý tới Hồ Tây dạo mát, ngoạn cảnh nước non, thấy một Tòa lâu đài ngay trên mặt nước liền rẽ vào chúc rượu vịnh thơ. Rượu men nồng thắm, ý thơ dồi dào, các văn nhân mặc khách cùng vịnh phú ngâm thơ cùng cô chủ quán tuyệt đẹp, ba ông ai cũng phục tài thơ phú của cô chủ quán.

 

Ra về lòng lưu luyến ái mộ, mấy tháng sau ba người lại rủ nhau ra Tây hồ, tới chốn cũ thì chỉ thấy mấy cây đào và bài thơ ở đó:

 

“Vân tác y thường, vân tác xa

 

Triêu du Đâu suất, mộ Yên hà

 

Thế nhân dục thức ngô danh tính

 

Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh Hoa”

 

Trạng Bùng tán thì ra đó chính là lời nói của Tiên chúa, ta chính là Thiên Tiên Ngọc Quỳnh Hoa. Phùng Khắc Hoan giật mình lạy tạ, kính trọng Tiên chúa càng thêm kính.

 

Tiên chúa phiêu du sơn thủy được 30 năm thì là lúc chàng Đào Lang đã hóa sinh chuyển thế, biết vậy nên người đã từ Tây Hồ về Thanh hoa nơi Đào lang đầu thai. Đang khi ngồi bên khe suối, bỗng thấy chàng thư sinh, hình dung tuấn tú đi tới, biết là Đào lang khi xưa, Người mới gọi với xin giúp đi đường. Đào Lang lúc này thụ sinh vào nhà họ Mai tên Mai Sinh ở làng Tây Mụ, huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh hóa, tưởng là gái giang hồ, rồi làm thinh bước đi thẳng không đáp trả. Mấy ngày sau, trong lòng áy náy khôn nguôi, chẳng may thân gái ở chốn rừng thiêng nước thẳm lỡ có chuyện gì thì sao. Vậy là Mai sinh đã quay lại nơi mấy hôm trước gặp tiểu thư kia, tới nơi, không thấy ai, lòng ủ rũ buồn rầu, chợt có tiếng chào hỏi từ phía sau, chàng Mai sinh vui mừng khôn xiết, chàng đâu biết được người con gái xinh đẹp đó chính là Tiên chúa, vợ kiếp trước của mình.

 

Hai người dọn về ở bên nhau từ đó chẳng cần mối mai, cưới hỏi gì cả, chỉ thề trước nhật nguyệt, phu thê sắt cầm, đó là vào năm Hoàng Định thập niên (Lê Kính Tông – 1609). Đức Tiên chúa sinh được một con trai đặt tên là Mai Cổn.

 

Gia đình thung huyên hòa hợp, sắt cầm hoan hỉ, Mai sinh đỗ đạt, Mai cổn khôi ngô phi phương.

 

Nhưng rồi một ngày cuối đông, tự nhiên Tiên chúa nước mắt chứa chan, Mai sinh hỏi, Tiên chúa rằng nói rằng :

 

"Ta là Thiên tiên trên trời, kiếp trước kết bề phu phụ với chàng, giờ tái hợp lại, Ta xuống trần làm ứng, đến lúc mãn hạn, nếu còn duyên phận, hẹn chàng kiếp sau tái ngộ".

 

Nói xong dặn dò mọi sự, nước mắt như mưa, xa giá đã đến, Tiên nữ hai hàng đón rước Tiên chúa thăng thiên. Hôm đó là cuối tháng chạp năm Canh Tuất Hoàng Định thập nhất niên (Lê Kính Tông – 1610).

 

Buồn thương vợ, Mai sinh từ quan về nơi chốn gặp khi xưa mà dựng lều, hai cha con từ trần tại đó.

 

Khi Tiên chúa tới ngự ở Phố Cát, dân thôn kính sợ, lập đền thờ khói hương, ai đi qua mà không lễ phép, không xuống ngựa, hạ võng đều bị khiển trách, chết không biết bao nhiêu. Triều đình ngỡ là yêu quái, ra lệnh cho Trịnh Hoàng Phúc lo việc trừ yểm. Trịnh Hoàng Phúc mới vời một phủ thủy nổi tiếng trong nước để giúp việc này.

 

Thầy phù thủy cùng Đệ tử đi tới Đèo Ngang (gần Phố Cát) thì gặp một bà già chống gậy đi qua. Phù thủy hỏi bà lão :

 

‘Nghe nói ở đây có yêu tinh hay nhiễu hại nhân gian phải không?’

 

Bà lão đáp :

 

‘Phải! Nhưng sao ông lại hỏi?’

 

‘Tôi là Pháp sư, tới đây để trừ yểm con yêu đó’

 

‘Cẩn thận! Con yêu đó lắm phép, ông không trừ được nó đâu, tôi nghĩ ông về thì hơn’

 

‘Bà lão lo gì! Con yêu này sẽ biết tay tôi’

 

Bà lão đột nhiên biến đâu mất chỉ thấy một cô gái đẹp nhìn Pháp sư một cách kiêu ngạo, Pháp sư nổi giận quát :

 

‘Người dám hỗn láo với ta hả?’

 

Nói xong vung gươm bắt khuyết chém về phía người con gái, cô gái vẫn ung dung cười kiêu ngạo và lùi dần về phía sau, Pháp sư hung hăng đuổi theo vấp phải một phiến đá hộc máu mà chết, còn cô gái biến mất. Pháp sư chết, quân triều đình tới đốt phá đền miếu, dân cư trong vùng đau ốm liên miên, bệnh tật nhiều vô kể, mới lập đàn, Tiên chúa sang lời nói là phải xin vua lập lại đền thờ cung phụng Tiên chúa.

 

Dân thôn đến cung tâu bày với Vua sự thể sự tình, vua cho sửa lại đền miếu nguy nga hơn xưa. Vua Lê Thần Tông sắc phong là Thượng đẳng thần ‘Mã Hoàng Công Chúa, Thượng đẳng Tối linh thần’ năm Dương Hòa nguyên niên (1635 - Ất Hợi), từ đó dân chúng nhờ phép Tiên chúa, hưởng ơn phúc, mọi sự như thường.

 

Thấy nhiều sự linh nghiệm, hiển ứng vô song, nên vua Lê Thần Tông còn phong cho Tiên chúa :

 

‘Thượng thượng thượng đẳng tối linh, vi bách thần chi thủ’

 

Đến đời Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị, quân Xiêm nhiễu hại bờ cõi Đại Việt, vua sai Quận công Phan Văn Phái tới tiễu trừ, nhưng thế giặc hùng dũng khó mà phá nổi, khi dẫn quân tới Đèo Ngang có ghé vào đền Phố Cát thờ Tiên chúa, lễ lạy Tiên chúa cầu xin người âm phù đánh giặc rồi mới xuất quân, khi tới chiến trường, lúc giao chiến gió giông nổi lên, sấm chớp ầm ầm. Phan Văn Phái biết là có Tiên chúa phù trì, nên ông cho quân tấn công, không mấy chốc đã phá tan quân giặc. Phan Văn Phái cảm phục vô cùng, mang chiến thắng về triều tâu vua và không quên kể rõ công trạng mà Tiên chúa đã gia hộ, Lê Huyền Tông nhớ công đức tôn phong mĩ tự : ‘Hộ Quốc Bình Nhung’ và hạ chiếu gia phong: ‘Chế Thắng Hòa Diệu Đại vương’

 

Lại nói về Sòng Sơn Đại chiến, khi Tiên chúa đi du ngoạn bốn phương thấy cảnh trí ở Sòng sơn tú khí chung linh mới nán lại dọn quán bán hàng, những ai nghiêm chỉnh đứng đắn qua đường thì được tha, còn kẻ nào trăng hoa bất kính thì bị hành hạ cho điên đảo, có khi chết bất đắc kì tử, dân trong vùng phải lập đền thờ mới yên ổn.

 

Trong số những kẻ đắc tội có hoàng tử của vua Lê chúa Trịnh, cũng như bao kẻ tội đồ khác, Hoàng tử bị hành hạ cho điên đảo, ngày đêm về hành cung đều hoảng hốt tâm thần bất định. Lại chuyện Vua Lê chúa Trịnh khi về chốn tổ Lam Sơn đi qua đền Sòng không xuống cáo yết, tất thảy xe ngựa dựng đứng, ai không xuống ngựa đều bị vật ngã, vua nổi giận nhưng không biết thế nào, phải quay về kinh đô bàn với quần thần tìm cách tiêu diệt nữ quái ở Sòng sơn. Nói rồi ra lệnh truyền tới Thượng Sư Đạo Nội tới (Phái đạo sĩ nổi tiếng nhất thời bấy giờ). Thượng sư Đạo Nội đã hóa , chỉ còn người con trai thứ ba tên Ngọc Quan đang tu luyện ở Từ Ninh, Hoằng Hóa.

 

Cờ rong trống mở, Ngọc Quan đem quân lính tới vùng Sòng sơn để tiễu trừ Tiên chúa, Người hay tin vẫn bình tĩnh an nhiên như thường. Ngọc Quan tính kế, định lừa Tiên chúa để đánh úp Người, dùng miếng vải điều thu hết thần thông của Tiên chúa, Người vờ như bị thu hết Thánh phép, lui về giếng âm dương, sau đó người ra lệnh Sơn thần, thổ địa, âm binh thần tướng của Người ra giao chiến với quân lính của Ngọc Quan, cuộc chiến gay go, quân lính hai bên chết vô số, cũng theo ý đồ của Tiên chúa, Chúa giả vờ thua trận, để bảo toàn cho tôi tớ của mình, theo Ngọc Quan về kinh đô, đứng trước sân rồng, Tiên chúa phán với Vua tôi rằng: ‘Hoàng tử nhà vua phạm tội dám xúc phạm thiên nhan, thói trăng hoa tráo trở, Vua tôi đi qua, không hạ kiệu cáo yết, bảo sao ta không hành phạt?’ Nói xong Tiên chúa ra phép cho Ngọc Quan cùng Đệ tử đau đớn quằn quại, thoát cái Tiên chúa đã bay lên trời, rồi cuối cùng Vua cúi đầu lạy tạ. Cho lập lại đền thờ, tuyên phụng Đại vương, đời đời hương khói, ai đi qua cửa đền đều phải xuống kiệu xuống ngựa, ngả mũ nón, không ai là không dốc lòng thành kính.

Vì thương xót sinh chúng, nhân loại và con dân của Người nên Người đã giáng sinh hiện thân làm Hoàng Thiên Quốc Mẫu Ngọc cung nương tại thế hiện tại, những Thần tích việc làm của Người còn tiếp tục đến vô tận, chúng ta sẽ là người viết tiếp những việc làm của Tiên chúa nơi thế gian này. Việc Tiên chúa hành tai hành ác cũng là để khuyến thiện trừng ác, Công lao của Người muôn dân quy phục, khói hương khẩn đảo, thực sự là một gương mẫu sáng chói soi tỏ cho nhân gian, nhân thế muôn đời học tập, hiếu nghĩa, trung trinh, nghiêm từ công dung ngôn hạnh. Thực là xứng đáng với mĩ hiệu tôn xưng đấng Tối cao bậc Vô thượng Toàn năng Toàn thiện Toàn mĩ Toàn chân Hoàng Thiên Quốc mẫu Ngọc cung nương dung Liễu Hạnh Công chúa.
(Trích sách Bản mệnh Căn đồng)



  Các Tin khác